Mua Thu Ha Noi

Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Cao bồi già Hà Nội

Tác giả: Nguyễn Việt Hà

 

Nếu tin theo lời của một vài du khách có vội vàng khi nặng lòng mến yêu thủ đô thì ở Hà Nội ấn tượng hình như đáng kể nhất, đơn giản nhất vẫn là “mái ngói thơm nâu” hay “cây bàng lá đỏ”. Tất nhiên các “tua rít gia” còn kể lể nhiều thứ nữa. Này là sương loang hồ Tây, nào là thu vàng ngõ nhỏ. Rồi thì công phu ẩm thực, rồi thì kỹ tính thú chơi. Hà Nội đương nhiên đã và sẽ đầy đủ những thứ đó, nhưng cũng giống như một phức tạp tuyệt đại mỹ nhân hay một thâm trầm kiệt hiệt anh hùng, cái vượt thoát khỏi sự hay dở làm người ta tâm phục khẩu phục nửa kính nửa nhường lại hoàn toàn không nằm ở chuyện múa may son phấn.

Người có cốt cách Hồ Nội mang một phong độ rất riêng, nó là bản năng phố phường có được từ “chất.” (Những năm còn bao cấp sắp sửa manh nha sang đổi mới, dân chợ Giời rất hay dùng chữ “chất” khi phải mặc định một giá trị gì. Ví như cái quần bò này “chất” nhỉ, Lìvai Mỹ hay Kinngiô Thái. Hoặc siêu hình Xếchxi hơn, con bé ấy cực “chất”). Vì thế chỉ cần nghe một vài ngữ điệu giao tiếp người ở Hà Nội sành sỏi biết ngay người đối thoại thuộc loại nào. “Chât chơi” hay “chất quê.” Thậm chí còn định vị đúng anh/ chị ta đang sống ở phố cổ hay ở rìa cửa ô. Những cao thủ kinh bạc ngửi, rồi lọc lõi phán xét chính xác được về “chất” thường là những đàn ông có tuổi ngoài năm mươi trở lên mà giới vỉa hè trân trọng gọi cũng như bọn họ trịnh thượng tự nhận là cao bồi già Hà Nội.

Đó là những ngoại hình trung niên, rất khó đoán tuổi đã ngoài sáu mươi hay ngoài bảy mươi. Quần áo phẳng phiu hàng hiệu, hoặc là kiểu “đờ mi xe dông” (quần kaki áo vest), hoặc một bộ đũi sáng sang trọng đĩ tính bật nổi ra khỏi cái hồi khó khăn khi đồ cotton chưa lên ngôi. Bọn họ thích đi bộ, có lẽ cũng vì già, nhiều tay phô phang thì tay cầm batoong, mồm ngậm tẩu, đầu đôi “phớt” dạ và dưới thắt lưng da nâu có thấp thoáng một sợi dây xích sáng trắng từ cái đồng hồ quả quýt nắp bạc. Bọn họ ăn sáng ở linh tinh các quán, các hàng rong, nơi những ông chủ bà chủ nổi tiếng nấu ngon cùng tài nhớ mặt khách, rồi khệnh khạng đi tới một hàng cà phê quen. Có điều, tất cả những hàng này, bắt buộc những hàng này phải trong bán kính một ki-lô-mét quanh hồ Hoàn Kiềm. Lờ mờ trong khói thuốc thơm câu chuyện của bọn họ khá tục, không phải vì bọn họ hay đệm mà do các chất trải nghiệm kẻ chợ cay đắng kiêu bạc đến mức tàn nhẫn. Phần nữa là bọn họ thường bỏ học dở dang, bởi người đã đúng là kẻ chợ thì tuy khát khao tôn trọng yêu trí thức nhưng hoàn toàn lại lười ngại để trở thành trí thức.

Do hầu hết xuất thân ở những gia đình dư giả có truyền thống buôn bán nên cho dù gia đình đang lụi bại xập xệ tất thẩy bọn họ đều ham chơi. Cái hỗn danh “mải chơi” không hẳn chỉ dành cho một người và xung quanh “hỗn danh” này có không biết bao nhiêu truyền kỳ phảng phất hoang đường. Có một đôi ngoại tình yêu nhau không còn trẻ lắm đến chơi nhà một tay cao bồi già. Hồi ấy Hà Nội chưa có nhà nghỉ. Tay cao bồi ở trong một biệt thự cũ đang nhếch nhác chia năm xẻ bẩy nhưng vẫn có phòng riêng. Cặp tình nhân đưa ít tiền cho tay cao bồi đi mua đồ ăn trưa. Sau khi cẩn thận khóa cửa (phần lớn cao bồi thường ghét và khinh hàng xóm), tay này đi ra chợ Hàng Bè thì gặp đám bạn ngẫu hứng rủ đi Sài Gòn. Anh ta nhận lời ngay, lên tầu Thống Nhất đi luôn một tháng. Khỏi cần phải kể nỗi khổ kinh hoàng của đôi tình nhân bị nhốt kia trong suốt tháng ấy. Tuy mải chơi nhưng không hiểu sao các ông cao bồi toàn đẻ ra con cái (cả trong và ngoài giá thú) luôn luôn thành đạt. Ở Hà Nội hôm nay, đám con cái ấy đều phát tài thành cự phú. Bọn chúng đồng thanh bảo đấy là nhờ hấp thụ được cái sắc sảo lăn lộn tinh quái của người cha. Thảng trong đám đó có đứa phát phúc học hành, đàng hoàng làm giáo sư làm tiến sĩ.

Do bản chất tài hoa, đám cao bồi hầu hết tinh tế ham thích âm nhạc văn thơ hội họa. Thơ bọn họ chua chát trắng trợn hiểu người nên mặt lạ lắm. “Không vênh vang mặt giai không sợ. Không giáo giở lòng gái không thương.” Đây là hai câu vào loại nhẹ nhất trong bài thơ có nhan đề “ Đời có ra chi mà đ… chửi” của một chân chính cao bồi ngoài bát thập. Và cũng chính từ họ, đám trẻ của Hà Nội nghìn năm văn hiến mới hiểu được câu thành ngữ khét tiếng “Gái Hàng Khoai, trai Hàng Lược.” Vì thế, cao bồi già thường nhìn các nhà “Hà Nội học” bằng cái nhìn “đểu”. Với họ, những nhà đấy ngoài việc thuộc tên phố thì còn lại chẳng biết cái quái gì.

Ngày nay, lớp cao bồi già đang dần dần tự tuyệt tự. Chẳng biết họ hay hay dở, nhưng bọn họ xứng đáng được ghi vào sách đỏ để bảo vệ giữ gìn như một loài khác lạ quý hiếm. Bởi không có họ, cũng như không có kẻ cắp chợ Đồng Xuân hoặc “phe phẩy” chợ Giời, Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất đi một khoảng trống bi tráng nhố nhăng.

Mà nhố nhăng là một đặc tính làm nên một đô thị lớn, Vũ Trọng Phụng chuyên viết về cao bồi gốc Hà Nội đã bảo vậy.

24/08/2013 Posted by | Hà nội của tôi, Nhàm đàm | , | %(count) bình luận

Ký vãng những phiên chợ Mơ xưa

Nội đô Hà Nội nay vẫn còn hai cái chợ níu giữ được phiên là chợ Bưởi và chợ Mơ. Phiên chợ Bưởi nay bán nhiều chim, cây, đá, gỗ cảnh. Phiên chợ Mơ ít cây và đá hơn nhưng lại có nhiều loại con khác: mèo, chó, gà… So với những gì tôi nhìn thấy trong ký ức tuổi thơ thì những phiên chợ Mơ hôm nay khác nhiều lắm… Và nó cũng sắp chẳng còn cho con tôi được biết rõ hơn

 

Chợ Mơ xưa . Ảnh tư liệu.

Nhà tôi ở làng Hoàng Mai – Kẻ Mơ – vùng thái ấp của Thượng tướng quân Trần Khát Chân vang bóng một thời. Vị trung thần của nhà Trần có nhiều công tích chiến chinh là người khai cơ lập ấp cho dân Kẻ Mơ – Cổ Mai (gồm cả Mai Động, Mai Hương, Bạch Mai, Tương Mai, Hoàng Mai ngày nay). Ông được dân hai làng Tương Mai và Hoàng Mai tranh nhau thờ phụng đến mức xung đột thành giai thoại mà thế hệ con cháu chúng tôi chỉ còn được nghe kể… Hoàng Mai xưa có nghề nấu rượu ngon, có nhiều sản vật: có giống cà pháo dày cùi, muối giòn tan, giống cải Hoàng Mai cũng ngon nổi tiếng. Sau này Hoàng Mai còn là làng hoa ven nội suốt nhiều năm thời bao cấp. Thời đó tôi còn nhỏ lắm nhưng cũng đã đủ “khôn” để nhìn và để nhớ. Dù bố mẹ chỉ là “cán bộ nhà nước” bình thường như bao người khác cùng thời nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn được bố dẫn đi thăm đình, chùa (cả ở Hoàng Mai, Mai Động, Tương Mai), đi vòng quanh làng (với tôi hồi đó thú vị như bằng đi nửa vòng thế giới), đi chơi phiên chợ Mơ, dù chẳng mua bán gì nhưng như lời bố tôi là để: “Biết làng mình… ”.

Tôi được đi chơi phiên chợ Mơ khi chợ Mơ đã chuyển xuống từ ô Cầu Dền thành chợ mới Mơ từ lâu. Nay cùng chẳng còn mấy ai biết địa danh ô Cầu Dền của Hà Nội xưa cũ. Họ chỉ biết ngã tư Đại Cồ Việt – Trần Khát Chân hay bị tắc đường. Người ta cũng đã quên dần chữ mới, chỉ gọi là chợ Mơ như cũ. Chợ Mơ “cũ” trong ký ức của tôi ở trong cái góc vuông hai phố Bạch Mai và Minh Khai bây giờ. Những điều kia sau này tôi được đọc lại trong sách vở.

Những chợ “đặc biệt” như chợ “tâm linh”, chợ “tình” họp mỗi năm một phiên như chợ Viềng, chợ tình Khau Vai, chợ tình Mộc Châu…. Chợ vùng cao phía Bắc thường họp mỗi tháng một phiên. Còn chợ vùng đồng bằng thì gần như không có lệ chung mà tùy từng vùng, tùy từng chợ. Nhưng chỉ có những chợ “lớn” (cũng chỉ lớn bậc trung thôi) mới có phiên để những người buôn bán “lớn” (hơn) tiện hẹn giao dịch. Chợ lớn hơn nữa – cỡ như chợ Đồng Xuân, chợ Bến Thành, chợ Đông Ba… thì ngày nào cũng tấp nập bán mua mà chẳng cần định phiên làm gì.

Chợ Mơ ở cửa ngõ phía nam Long thành xưa. Lái buôn theo cả đường bộ và đường sông về đây đều thuận tiện nên chợ Mơ là “chợ cấp vùng” chứ không chỉ là của riêng kẻ Mơ nữa. Chợ Mơ họp một tháng sáu phiên. Tôi vẫn nhớ thuộc lòng: phiên chợ Mơ ngày 2 ngày 7, chợ Bưởi ngày 4 ngày 9, chợ Hôm ngày 3 ngày 8. Chợ Hôm xưa được đặt tên như vậy vì họp từ đầu hôm tinh mơ mờ sáng vẫn còn sao hôm, nay đã lọt giữa trung tâm, một phần đã biến thành siêu thị, chẳng còn phiên nữa. Chỉ còn chợ Mơ và chợ Bưởi là còn lay lắt ký vãng phiên xưa.

Đã là phiên thì phải khác ngày thường. Chợ ngày phiên đông hơn, những thứ ngày thường vẫn bán cũng có nhiều hơn, lại có những thứ mà ngày thường không có. Thời tôi được bố mẹ dẫn đi phiên chợ Mơ thì quy mô này đã nhỏ đi rất nhiều nhưng vẫn còn buôn bán những thứ nhiều chợ khác không có: bò, trâu ngựa, chó, mèo, gà, vịt, lợn giống, cả than, cả củi…

Lần nào được đi chơi phiên chợ Mơ tôi cũng cố nài bố để được đến xem khu bán trâu, bò, ngựa – dù ở tận phía cuối, bên rìa chợ. Đó là cả một thế giới hấp dẫn và khác lạ. Tôi vẫn nhớ như in cảm giác của mình kinh ngạc, ngưỡng mộ đến mức nào khi thấy bác dắt ngựa thu cương ghìm con ngựa đang lồng dựng hai vó trước khiến mọi người nháo nhác. Lại thấy ông ấy nói gì đó (cứ như thần chú) làm cho con ngựa ngúc ngoắc cái đầu rồi đứng yên. Nếu so với những con ngựa chiến trong phim ảnh thì những con ngựa trong phiên chợ Mơ chỉ là những con “nghẽo”. Nhưng trong mắt một đứa bé bảy tám tuổi như tôi hồi đó thì cảnh ấy quả là một sự kỳ vĩ vô hạn.

Cụ Tư chuyên bán mơ trong chợ.

Những con trâu, bò đã nhìn quen mắt từ hồi còn phải đi sơ tán tránh bom B52 nhưng cũng vô cùng hấp dẫn với thế giới tuổi thơ mặc dù khu bán gia súc chẳng vệ sinh, đẹp đẽ gì. Lũ trâu bò luôn dậm chân kiến bùn bẩn bắn tung, đuôi thì luôn đập hai bên khiến nhiều người không để ý bị bắn dính cả bùn và ruồi vào người. Thật ra cũng không phải trâu, bò mà là nghé và bê. Sau này tôi mới biết là thời đó chẳng ai dám công khai buôn bán hay giết thịt trâu bò vì sẽ bị quy tội làm thiệt hại nguồn sức kéo, phá hoại sản xuất… Ấy vậy mà làng Mai Động xưa nổi tiếng trong thời bao cấp về nghề giết trộm bò. Có chuyện (chẳng biết có thật không) rằng: Các “cao thủ” Mai Động điêu luyện đến mức có thể thịt bò cả trên xe tải. Phía cuối thùng xe (loại có mui) giăng một cái màn như có người đang ngủ nhưng ở bên trong chỉ cần không đến vài mươi phút là đã xử lý gọn gàng cả con bò – từng món đều đã có địa chỉ và được đưa đi chóng vánh. Không thể biết họ làm thế nào mà hết sạch cả dấu vết để đến khi trời tang tảng sáng là xe có thể ung dung đi khỏi “hiện trường” (!).

Ngày xưa không biết thế nào nhưng lúc tôi được đi chơi phiên chợ Mơ thì đã thấy gà vịt được nhồi bánh đúc. Các bà hàng gà vịt cứ nhoay nhoáy bóp mỏ từng con rồi ấn vào đó những miếng bánh đúc to tướng. Ấn một hồi rồi vứt toạch sang một bên khi thấy đã đủ mà chúng chưa bị chết ngay. Người mua biết thừa nhưng đành phải mặc cả “trừ diều” theo ước lượng cảm tính vậy. Gà bán ở phiên chợ Mơ thật là nhiều loại nhưng tôi thích nhất những đôi chân sần sùi gân guốc như những gốc cây cổ thụ của những con gà Đông Tảo (có người lại gọi là Đông Cảo) ít lông, đầu cổ đỏ gay như uống rượu… Cạnh những lồng gà là lũ chó con í oẳng râm ran. Rồi một hàng dài những rọ lợn. Con nào cũng hồng hào. Nhưng bố tôi bảo: Lợn đó bị “hồ” nên mới đẹp thế. Ông còn lẩm bẩm: “Lợn rọ, chó bu…”. Tôi cũng chẳng biết những con lợn giống ngày ấy được ‘hồ” thế nào nhưng thấy chúng hồng hào đẹp đẽ vậy lại bị nhét trong một cái rọ chật cứng thật tội nghiệp nên chẳng có thiện cảm gì với những người bán lợn.

Bẵng đi quãng thời gian tôi đi học, rồi lớn lên, dần quên mất những phiên chợ Mơ đi cùng với bố. Cũng dễ hiểu thôi vì khi chúng tôi đến tuổi biết tự đi chơi thì chẳng có nhu cầu gì với các phiên chợ Mơ nữa… Theo thời gian và thế sự, chợ Mơ cũng biến đổi, hiện đại dần lên trong “cái áo” càng ngày càng tỏ ra chật chội. Nói hiện đại là về những mặt hàng thôi – nhiều thứ chẳng còn, nhiều thứ mới sinh ra. Nhưng phương thức bán mua thì vẫn thế, chẳng có gì hiện đại mà vẫn như một cái chợ làng.

Chợ Mơ trong tương lai. Ảnh tư liệu.

Rồi đến gần đây, chợ Mơ lại trải qua thêm một phen “vật đổi sao rời”. Các tính toán của nhà đầu tư cho thấy rằng xây một cái trung tâm thương mại cao tầng ở chỗ chợ Mơ cũ thì có lợi hơn nhiều so với việc cứ duy trì cái chợ lụp xụp nhếch nhác trong con mắt những người đi ô tô. Thế là có dự án. Thế là vận động, đền bù, di dời… Cũng có vài xao động nhưng cuối cùng thì mọi việc cũng đã yên. Chợ Mơ “cũ” của tôi lại “mới” một lần nữa – chuyển ra ở tạm ven đường hai bên sông Kim Ngưu. Nhưng may (?) vẫn còn nét độc đáo là chợ Mơ “mới” nay vẫn cố “ngắc ngoải” giữ nếp phiên từ thủa nào, dù chẳng còn được như thời tôi còn bé. Tất nhiên nay chẳng còn ai dắt trâu, bò, ngựa, lợn vào đây mà bán nhưng chim, gà và chó mèo, thì vẫn còn… Chó, mèo “quốc tịch” khác có nhiều hơn, lồng cũng “sang trọng” hơn… Nhưng người bán thì vẫn thoải mái “hét” giá giống như ngày xưa. Người mua thì hết bĩu môi lại lắc đầu rất lâu trước khi chịu móc hầu bao.

Tạm bợ trong khoảng đất chật, lụp sụp dãy kiot quây tôn bên bờ sông, tự tràn lấn lên vỉa hè và cả xuống lòng đường những khi “khuất mắt chính quyền”, chợ Mơ “mới” (tạm) phải gồng mình để đáp ứng nhu cầu trao đổi bán mua của góc thị trường phía đông nam thành phố. Ngặt một nỗi bây giờ đường chật, người đông, xe cộ lắm. Mỗi ngày phiên chợ Mơ là cả đoạn đường Kim Ngưu lại dồn ứ người và xe cho tới buổi trưa. Người mua – bán chật chội. Người đi len lách… Những phiên chợ Mơ (tạm) vẫn họp trong những lời lẩm bẩm, càu nhàu, thậm chí cả trong sự giận dữ của những người đi lại dưới đường, cả trong những sự sốt sắng (cũng không biết vờ hay thật) “dẹp” trật tự của những người thuộc các “cơ quan chức năng”… Một điều chắc chắn rằng những phiên chợ này không lâu nữa sẽ biến mất. Thời gian đã có thể đếm ngược trên đồng hồ. Trung tâm thương mại mới đã xây gần xong trên nền chợ cũ. Chừng năm sau chợ Mơ sẽ lại có một cuộc thiên di “trở lại nơi cũ”. Những đó là sự trở lại mà không như cũ. Chợ Mơ mới sẽ ở trong lòng siêu thị giống như chợ Hôm. Và vĩnh viễn chẳng còn phiên chợ Mơ

Ngữ Thiên

(copy từ blog http://thegioif5.com/ky-vang-nhung-phien-cho-mo-xua)

22/01/2012 Posted by | Cuộc sống quanh tôi, Hà nội của tôi | , | 8 phản hồi

Em là nỗi nhớ

Bài đăng lại dành cho MTHN – ‘CÚN NGUYÊN CON

Chắc chắn là tôi đã biết em khi tôi còn ở trong nước. Tuy nhiên, thú thật thời đó tôi không để ý đến em lắm. Cho đến một chiều đang đắm mình trong nỗi nhớ quê, mải mê ngắm nhìn những bông tuyết đầu mùa rơi trên xứ người, bỗng nghe mấy anh chàng công tử Hà Thành nhắc đến em, chợt thấy lòng mình trỗi dậy một nỗi nhớ nao nao khó tả. Thì ra, nỗi nhớ về em đã có sẵn trong tôi, bất chợt ùa về như thế đó! Đó là vào những ngày đầu xa quê, chúng tôi sống và học tập ở một thành phố cảng bên bờ Hắc Hải.

Rồi tốt nghiệp. Rồi về nước. Rồi ngày ngày đi làm. Tuy thời đó cuộc sống còn lắm khó khăn vất vả, nhưng có thể nói đó là khoảng thời gian đẹp nhất trong đời!

Sống giữa lòng Hà Nội, tôi đã gặp lại em như một điều tất yếu, như là sự sắp đặt của số phận. Mặc dù mỗi năm chỉ được gặp em có một lần, nhưng cũng đủ để cho tôi hiểu em nhiều hơn và nghiệm ra nhiều điều. Và rồi tôi bỗng ngộ ra rằng, sự hiện diện của em quan trọng đến như thế nào đối với mảnh đất và con người nơi đây.Cứ mỗi lần em về, Hà Nội như đằm thắm hơn, đáng yêu hơn, và cũng gợi nhớ hơn. Mỗi đận em về, người Hà Nội bỗng trở nên kín đáo và duyên dáng hơn, cảm xúc cũng dễ dàng dâng trào để rồi một ngày nào đó xa Hà nội, người Hà Nội luôn nhớ về em!

Khi ngắm nhìn một chiếc lá vàng rơi, khi cảm nhận cái se se của ngọn gió heo may đầu mùa, khi thấp thoáng bóng dáng gánh hàng hoa với những bó cúc vàng, với những bông sen hồng cuối hạ, ai ai cũng đinh ninh rằng em đã về, em đã hiện diện trên mảnh đất hào hoa này!

Cuối một chiều vừa tắt nắng hanh. Hoàng hôn chưa kịp phủ bóng lên Hồ Gươm thơ mộng. Ta rảo bước dọc theo con đường thân thuộc quanh hồ. Heo may nhè nhẹ, hương hoa sữa khẽ đưa theo gió, thoang thoảng mà nồng nàn, mà quyến rũ làm sao. Ta vẫn biết em còn quanh quất đâu đây, vậy mà sao vẫn nhớ đến nao lòng! Ta vừa làm xong một bài thơ về em, ta muốn gửi nhưng rồi không gửi. Bởi ta biết nếu có gửi cho em thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có hồi âm. Em dịu dàng mà kiêu sa như vậy, để biết bao người ngưỡng mộ em, để đến nỗi “đi xa thì nhớ, ở gần lại si”. Đã có biết bao nhà văn nhà thơ viết về em, đã bao giờ họ nhận được hồi âm từ em? Ta cười thầm với những dòng suy nghĩ lan man và ngộ nghĩnh.

Se lạnh, ta biết mùa Đông sắp về. Đông về là em lại ra đi, ra đi để sang năm em sẽ quay trở lại. Ta đang đắm mình trong em mà lại còn muốn ôm em vào lòng. Ngộ thật! Em hiện diện quanh ta, hương thơm của em thấm đẫm tâm hồn ta, vậy mà ta vẫn ước ao làm sao để em gần ta hơn nữa. Lạ thật!

Em sắp đi xa rồi. Xa em rồi ta sẽ nhớ em nhiều hơn. Vẫn biết thế nào rồi em cũng trở lại, vậy mà lòng ta vẫn cồn cào quyến luyến không thôi!

Chào em nhé! Nhất định ta sẽ gặp lại em, sẽ đón em về với niềm hứng khởi và hân hoan như thuở ban đầu.

Và cũng bởi chính em là MÙA THU HÀ NỘI!

Thăng Long, một ngày cuối Thu Mậu Tý.

Nguyen Tan Dinh – tandinh1011

 

Cũng thật tình cờ vì giờ là mùa thu ở Sài Gofn mình được tặng món quà này. Đọc xong chợt thấy bâng khuâng, lâng lâng xúc động, và mình như tìm lại một cảm xúc khi “được nâng niu”, đã qua từ lâu…

29/07/2011 Posted by | Hà nội của tôi, Uncategorized, Về tôi | | 22 phản hồi

Một Hà Nội khác trong tôi

Trương Duy Nhất

Hà Nội với tôi không… già thế, không xa đến nỗi nghìn năm. Hà Nội trong tôi không thiêng liêng, cũng chả lớn lao vĩ đại, ầm ĩ ồn ào như cái không khí mà người ta đang diễn.

Trong tôi, Hà Nội nhỏ bé, khiêm nhường, giản đơn như làn gió nhẹ thoảng qua lúc chuyển mùa khiến giật mình se lạnh. Nó thoảng lướt như viên sỏi ai đó vung tay ném vèo như cá đớp mặt hồ. Hà Nội của tôi không ì ầm, rộn rã. Nó nhẹ nhỏ và thanh tao như tiếng tàu điện khẽ leng keng, như vốc hoa sữa nồng thơm gió rụng tay người. Là cái túi cói khoác vai bị rạch trộm hết gần trăm bánh khoai sọ dì gói cho gửi vào Nam biếu mẹ. Là mấy giỏ cá giãy đành đạch nơi góc chợ Đồng Xuân dì khòng lưng mấy chục năm trong mùi tanh nồng thấm cả mấy xấp tiền thi thoảng nhét túi cho tôi đi học.

Tiếp tục đọc

01/10/2010 Posted by | Hà nội của tôi | , | 2 phản hồi

NHỚ

– Phan Thanh Bình –

Ở nơi nào em có biết hay không?

Nơi xa lắm cứ nhớ hoài em đó.

Dòng nhắn tin không phản hồi bày tỏ

Lặng lẽ hoài anh thức suốt canh thâu?

 

Giờ phút này em đang ở nơi đâu?

Bóng đèn chát sao lạnh lùng thế nhỉ?

 

Vẩn vơ buồn lòng bâng khuâng suy nghĩ?

Lạnh căn phòng, lạnh tận ở trong tim.

 

Chắc giờ này Sài Gòn náo nhiệt phải không em?

Đường nhộn nhịp người xe như trẩy hội.

Phố lên đèn đủ mầu trong đêm tối

Nhộn nhịp bước chân rộn rã tiền vui cười.

 

Phồn hoa lắm những nét mặt xinh tươi

Tung tăng phố Sài Gòn vui náo nức

Bỗng cơn mưa buổi chiều thành oi bức

Có nhớ không Hà Nội chút thu về.

 

Nhớ tới em hoa sữa lại ngủ mê

Chẳng thơm nữa như lúc mình dạo phố

Hồ tây vắng hàng liễu buồn như muốn đổ

Xuống mặt hồ tan biến những giọt sương

 

Hồ Gươm xanh mắt ngọc bởi vấn vương

Thiếu bước chân của một nàng tiên nữ.

Sánh vai cùng một chàng lãng tử

Lấy khuôn hình rồi in trọn vào tim

 

Thu đã đến nhưng vẫn mải đi tìm

Hai trái tim sinh vào mùa thu ấy

Con đương xưa, quán café vẫn vậy

Lác đác buồn lác đác chút tương tư

 

Sài Gòn vui chợt nắng bỗng chợt mưa?

Hà Nội thu có người đang nhung nhớ

Suốt canh thâu vặn mình rồi trăn trở

Rồi vô tình khẽ gọi Hà Nội mùa thu

 

Tôi yêu em, yêu cả mùa thu

Yêu say đắm mùi hoa sữa tỏa

Yêu si mê sương Hồ Tây trắng xóa

Yêu những gì tất cả thuộc về em!

 

 

25/09/2010 Posted by | Hà nội của tôi, Thơ | 14 phản hồi

Góp nhặt Thăng Long ngìn năm qua hình ảnh

Còn 8 hôm nữa đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Tốn kém cho cuộc giới thiệu linh đình này thì cũng đã tốn rồi. Đại lễ chưa diễn ra, nhưng trang web giới thiệu 1.000 năm Thăng Long Hà Nội đã muốn vào không được. Bức tường tranh dài nhất thế giới cho ngày hội ngàn năm chưa dùng đã nứt, và bao chuyện khác, etc… Tôi không còn nhớ câu nói này của ai: “Khi lòai người có bộ môn lịch sử, thì lịch sử nhân lọai không còn là lịch sử đúng nghĩa”. Lẽ ra bài viết phải dài với những cứ liệu lịch sử thật. Nhưng thiết nghĩ, bằng hình ảnh sẽ sống động và chứng cứ rõ ràng hơn. Ở entry này chỉ có mục đích lưu lại hai phần: phần xác, nói đến vấn đề trang phục của dân tộc thật ở thời thuộc Pháp và bộ phim giả sử về cụ Lý Công Uẩn, để xem làm phim lịch sử khó đến nhường nào? Và sau cùng là phần hồn của Hà Nội là lưu giữ những thước phim tài liệu có giá trị lịch sử của nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Trần Văn Thủy một thời rất đình đám.

Kết thúc entry xin dẫn Đọan phim giới thiệu bộ phim: Lý Công Uẩn – Đường đến thành Thăng Long và 5 phần của phim Hà Nội trong mắt ai? của ông Trần Văn Thủy để có cái nhìn về 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Hà nội trong mắt ai (1)

Hà nội trong mắt ai (2)

Hà nội trong mắt ai (3)

Hà nội trong mắt ai (4)

Hà nội trong mắt ai (5)

23/09/2010 Posted by | Hà nội của tôi | | 12 phản hồi