Mua Thu Ha Noi

Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Cận cảnh pho tượng kì lạ nhất Việt Nam

Có lẽ nhiều người ở Hà Nội không hề hay biết rằng giữa thủ đô có một bức “dị tượng” không giống với bất kì bức tượng Phật nào khác.
 Chùa Hòe Nhai (Hà Nội) không quá xa lạ với những cư dân của thủ đô, đất tổ của phái Tào Động Việt Nam, nhưng có lẽ không nhiều người đã từng nhìn thấy bức tượng một ông vua đời Hậu Lê hàng ngày hàng giờ phủ phục, và trên lưng ông, là Phật Thích Ca.
 Pho tượng này là kết quả từ một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678. Khoảng thời gian hậu Trần đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo nữa, thay vào đó là Nho giáo thịnh hành hơn bao giờ hết.
 Đỉnh điểm là đến thời vua Lê Hy Tông đã có một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề. Đạo Phật khi đó đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn. Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn, được biết đến với tên Tổ Cua, Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này.
 Không cam tâm thấy tăng chúng phải trải qua pháp nạn quá nặng nề đó, hòa thượng Tông Diễn đã tìm cách len lỏi trở lại kinh thành Thăng Long, tìm cách giáo hóa vị vua Lê Hy Tông đầy quyền uy và kì thị, vị vua mà sau này, nguyện phủ phục dưới Phật để sám hối những lỗi lầm đã phạm.
 Để cảm hóa được vua Lê Hy Tông, hòa thượng Tông Diễn đã cho một tấm biểu viết sẵn vào một chiếc hộp chuyển vào cho vua Hy Tông. Trong biểu chỉ có những điều đơn thuần dễ hiểu như: hãy nhìn vào đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không sân si, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội…
 Vua Hy Tông mở chiếc hộp và đọc chiếu mới bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện. Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh đã ban.
 Vua Hy Tông từ đây hết sức sửa mình, tự nguyện đề nghị với hòa thượng Tông Diễn rằng nên làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối và sửa mình một cách cẩn trọng của ông.
 Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tính cách Việt và lịch sử Việt, không nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế. Pho tượng này nằm ở một tầng cao về trí tuệ, một sự sửa mình để sống tốt hơn, một người ở cấp độ cầm quyền cao nhất cũng phải xem lại chính mình.

 

Theo GDVN

17/12/2013 Posted by | Chuyện khó tin nhưng có thật, Cuộc sống quanh tôi, Phật pháp | , | 3 phản hồi

Những ngày tháng mưa gió của Đại Tướng

VO NGUYEN GIAP - CHAN DUNG DEP

Chiến dịch Điện biên Phủ, tôi là chính trị viên đại đội pháo (Tô Vĩnh Diện) đã được gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên. Đại tướng rất thân tình với anh em. Chúng tôi kính mến lắm. Khi Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc, tôi làm Tổng Biên tập báo Phòng không, Không quân. Năm 1970 tôi làm phó chính ủy trung đoàn bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), rồi đưa cả đơn vị vào bảo vệ Trường Sơn. Khi Trung Quốc đánh ta, tôi lại được chiến đấu ở biên giới phía Bắc.

 

Từ ngày lãnh trách nhiệm Tổng Biên tập tạp chí Lịch Sử Quân Sự (1982) tôi nhiều lần được gặp Đại tướng để xin ý kiến. Trong các buổi gặp bao giờ Đại tướng cũng rất thân tình, cung cấp nhiều tư liệu quý giá với những chỉ bảo thật căn kẽ, thấu đáo.

 

Tôi rất khâm phục trí tuệ uyên thâm, uyên bác và sức làm việc hết sức dẻo dai của Đại tướng nhưng rất thắc mắc là tại sao năm 1980 Đại tướng đã thôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và năm 1982 đã thôi Uỷ viên Bộ Chính Trị.

 

Đôi lần trong bối cảnh thân tình tôi đã định hỏi trực tiếp Đại tướng nhưng rồi lại ngần ngại, lần lữa.

Một hôm, trong một bữa cơm thân mật tại nhà thượng tướng Trần Văn Trà tôi nêu câu hỏi vì sao Đảng không tận dụng tài thao lược và trí tuệ siêu việt của Đai tướng Võ Nguyên Giáp trong lĩnh vực quốc phòng mà lại bắt Đại tướng phụ trách việc sinh đẻ có kế hoạch?

Thượng tướng bảo tôi: Chủ yếu là do mâu thuẫn với anh Ba (Lê Duẩn) nhiều việc:

 

“Từ những năm 1950 anh Văn đã không đồng tình đánh Nhân Văn Giai Phẩm và ngay thời gian đó vẫn thường thăm hỏi, sẻ chia chân tình với một số nhà văn có tài”.

 

Anh Tư (tên thường gọi của Thượng tướng Trần Văn Trà) kể tiếp: “Khi đánh xét lại anh Văn bị coi như trùm trưởng dấu mặt. Đối với cải cách ruộng đất và cải tạo công thương tư doanh cả ở miền Bắc và sau này ở miền Nam anh Văn cũng không tán thành.

 

Mâu thuẫn với anh Ba càng sâu sắc hơn khi sau ngày 30/4/1975 anh Ba chủ trương bắt chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn đi cải tạo trong khi mình thì nhất trí với anh Văn là nên phân biệt hàng binh và tù binh, nên đối xử với những người bại trân như nước Mỹ thế kỷ 18 trong chiến tranh Nam – Bắc. Phía Bắc thắng, phía Nam đầu hàng mà không bị xử lý gì. Cha ông ta xưa cũng từng đối xử với giặc Tàu bại trận như vậy”.

 

(Văn bia Vĩnh Lăng kể về chiến công Lê Lợi- Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh còn ghi rõ: “Những quân giặc bị bắt và những quân đầu hàng có đến mười vạn người, đều tha cho về cả. Đường thủy thì cấp cho hơn 500 thuyền, đường bộ thì cấp cho lương ăn và ngựa; răn cấm quân sỹ (của ta) không được xâm phạm mảy may (đến quân giặc)”).

 

Một hôm, tôi đến hỏi Đại tướng để xác minh lời kể của thượng Tướng Trần Văn Trà. Đại tướng dẫn tôi ra ngoài vườn vì sợ trong nhà bị đặt máy ghi âm. Đi hết mấy vòng sân vườn, Đại tướng xác nhận: Các điều anh Tư nói đều đúng hết. Nhưng thôi đừng quan tâm. Lịch sử rồi sẽ minh xét như vụ án Lệ Chi Viên, cụ Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc nhưng lịch sử đã minh oan lâu rồi.

Hôm ấy Đại tướng đã ký tặng tôi tấm ảnh chụp giữa hai người.

 

Tháng Hai năm 1984 Hội đồng Khoa học Hoàng gia Anh chọn 10 danh tướng trong số 90 vị tướng nổi tiếng từ Cổ đại đến hiện đại .Việt Nam vinh dự được chọn 2 vị: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Gíap. Năm 1994 , kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin nhờ tôi làm chủ biên xuất bản cuốn sách “10 danh tướng thế giới”.

 

Tôi viết hai phần: “Lời nói đầu” và “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”. Về Đại tướng Võ Nguyên Giáp tôi lấy tài liệu của Bách Khoa Toàn Thư về quân sự và quốc phòng của Mỹ (International military Defende Encyclopedia). Họ ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết lời với nhiều tài liệu xác thực. Sách phát hành, tôi bị người của Ban Tuyên Giáo Trung Ương đến nhà 4, 5 lần quy kết tôi bịa đặt, quá đề cao Tướng Giáp.

 

Tin Đại Tướng ra đi làm tôi quá xúc động nên có dấu hiệu bị tai biến mạch máu não. May nhờ cấp cứu kịp thời và chỉ xuất huyết nhẹ nên đã qua khỏi.

 

Người đến viếng nhà Đại tướng quá đông. Tivi đưa tin hàng trăm ngàn người. Xem tivi thấy các phố đông kín người. Tôi rất lo không đi viếng được. May mà có cháu của Đại Tướng đến đón nên 8 giờ sáng mồng 10/10, vợ chồng tôi đã được vào lễ. Tôi phúng bức trướng ghi: “Kính Viếng Đại Tướng Võ Nguyên Giáp Đại Danh Nhân Danh Tướng Thế Gian – Đời Đời Kiếp Kiếp Lưu Danh Thiên Tài”.

Phạm Quế Dương Hội Viên Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam.

13/10/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tản mạn về một con người VĨ ĐẠI….

(Bài viết về suy nghĩ của một người dân bình thường đối với Đại Tướng Võ Nguyễn Giáp, viết nhân ngày quốc tang 12/10/2013)

Tác giả: Nguyễn Quân

Image

Mấy ngày hôm nay hình ảnh của bác Giáp tràn ngập các trang báo, đài và Tivi cũng vậy, mình cũng có đôi dòng về con người vĩ đại này. Chỉ là phó thường dân , chưa bao giờ gặp Bác nên viết với tư cách người dân bình thường tỏ lòng cảm phục Bác thay một nén hương tiễn Bác đi xa….

 

Khi mới cắp sách đến trường thì Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã mặc nhiên là thần tượng của học sinh rồi vì được học vỡ lòng Hồ Chí Minh là người đem lại độc lập, Võ Nguyên Giáp gắn với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng . Mấy chục năm ở Hà nội, thời thơ ấu mùa hè suốt ngày đi qua đường Hoàng Diệu để vào CLB quân nhân (hồi đó gọi thế – nay gọi là CLB quân đội) để đá bóng, bơi , bóng bàn…Tối thứ 7 thì lũ lượt vào xem phim. Đường Hoàng Diệu thì cũng biết biệt thự này của Bác Giáp, Biệt thự kia của bác Văn Tiến Dũng, Biệt thự nọ của LD…nhưng cả ngần ấy năm cũng có nhìn thấy Bác lúc nào đâu. Các biệt thự thì có bảo vệ gác nên thấy lãnh tụ rất gần mà cũng rất xa…. Học phổ thông cùng một đ/c con một bác là Trưởng BTCTW nhà biệt thự trên đường Phan Đình Phùng một lần được đến nhà mà choáng vì dãy nhà cho quản gia (thời Pháp) đã rộng bằng mấy nhà mình (ở khu TT Quân đội K93). Để thấy rằng nhìn thấy đã khó , còn được gặp thì không có trong ý nghĩ…

Năm 1969 cụ thân sinh ra tôi mới là thiếu tá, 43 tuổi một hôm về thấy lũ trẻ con bọn tôi cười đùa ầm ỹ thì mắng “ Bác Hồ mới mất không được ầm ỹ như thế…” rồi thấy bố tôi thỉnh thoảng lấy mù xoa chấm nước mắt, một việc rất hiếm thấy, mình cũng phần nào hình dung tầm quan trọng của sự việc cũng như lãnh tụ là như thế nào với những người lớn khi đó…

Sau này lớn lên đọc nhiều, nghe nhiều mới thấy sự vĩ đại của những con người vĩ đại . Đặc biệt với bác Giáp lại còn phải vượt qua nhiều sóng gió cuộc đời mà không phải do kẻ thù mang lại. Chính điều này lại làm tăng sự cảm phục của nhân dân với Bác.

Khi truyền thông chỉ có một chiều do các báo “lề phải” mang lại thì những lãnh tụ (sau Bác Hồ) được báo “lề phải” ca ngợi hết lời cũng không có người dân nào đến nhà đưa tiễn khi họ mất. Nay nhờ có mạng Internet mọi người có thể đọc cả báo “lề phải” và “lề trái” họ vẫn xếp hàng vào viếng Bác ….nên có thể nói chẳng cái gì qua mắt được nhân dân.

Khi con gái Bác có nói đại ý “ Thấy nhiều người đứng ngoài hàng rào tối 4-10 thắp nến cầu nguyện cho Bác nên mới mở cửa mời họ vào…”. Có nghĩa là gia đình không dự định đón nhân dân, đón ở nhà cũng chỉ dành cho Bạn bè, Họ hàng… (Vì cho rằng chỉ viếng ở 5 Trần Thánh Tông là đủ và cũng không nghĩ nhân dân lại đến nhà Bác). …

Về câu phát biểu của con trai Bác là “ Gia đình từ trước đến nay không yêu cầu tổ chức điều gì chỉ có một yêu cầu được an táng ở quê nhà và là yêu cầu duy nhất”. Mình có thể hiểu được điều này và tin những gì đọc ở báo “lề phải” là đúng vì 2 lẽ : Cái “tổ chức” được đề cập ở đây thực ra cũng rất vô tổ chức . Trước đây bác Hồ (vị cha già dân tộc) đã có di chúc rõ ràng về việc sau khi Người qua đời nhưng cái “Tổ chức” này vẫn nhân danh “theo nguyện vọng của nhân dân” để xây một cái lăng cho Người to đến độ phải có hẳn một BTL bảo vệ lăng Bác tương đương với một Binh chủng trong quân đội. (Có thăm dò ý kiến dân bao giờ đâu – Nếu có thăm dò lại thăm dò theo kiểu : Bạn có đồng ý xây Lăng để ghi ơn Bác Hồ không? . Nó sẽ rất khác với thăm dò : 1. Làm theo di chúc Bác 2. Xây lăng cho Bác). Theo dân gian khi con không làm theo lời cha thì họ gọi là gì…..chắc không phải giải thích thêm. Hay tại đám ma bác Trần độ cái “Tổ chức” này cũng đứng ra tổ chức , nhưng tổ chức không theo luân thường đạo lý của Người Việt nam ta “Nghĩa tử là nghĩa tận”, bắt gỡ bỏ hết các chữ cần bày tỏ trên vòng hoa của mọi người đến viếng . Đến nỗi đại diện gia đình là con trai bác Độ khi phát biểu sau cùng đã phản bác những điều đọc trong lời điếu về bác….vậy có cần “Tổ chức” này không….?

Chớ trêu là tôi lại phải đọc tìm hiểu về đám ma bác Trần Độ , bởi sau khi có một công văn của Trung ương Đảng gửi xuống từng chi bộ “quán triệt” về sự việc này. Không có công văn thì ai biết đến chuyện đó đâu…(đúng là lợi bất cập hại)… Mọi thứ trên báo “lề trái” tôi đọc đều được xác nhận bởi người nhà có đi dự đám ma bác Trần Độ.

Bác và gia đình lo cũng phải nhưng hãy yên tâm , với hàng triệu người đang xếp hàng viếng anh linh của Bác thì việc không thực hiện nguyện vọng của Bác là việc không có “Tổ chức” nào dám làm vào lúc này ….

Hồi mới về nước (1983) thấy mấy năm liền khi kỷ niệm chiến thắng Điện Biên không hề thấy nói đến tên bác Võ Nguyên Giáp. Một lần gặp một bác cán bộ cao cấp hỏi thì được trả lời Trung ương quán triệt không sùng bái cá nhân , đề cao công lao tập thể. Thực ra lúc này là lúc Bác đã bị bọn tiểu nhân gian thần vô hiệu hóa , đưa ra khỏi các chức vụ quan trọng , kể cả các chức vụ mang tính hạ nhục là phụ trách về kế hoạch hóa gia đình. Như chống tiêu cực hiện nay người chống tiêu cực sẽ bị cô lập , những người tiếp xúc với người chống tiêu cực sẽ bị theo dõi gây khó dễ….. Bác lại ở tầm quốc gia nên lại càng khó tiếp xúc. Những năm tháng đó quả thực nếu không phải là Võ Nguyên Giáp hẳn nhiều người đã quỵ từ lâu. Nhưng đằng sau đó còn rất nhiều người dù “bị theo dõi” nhưng vẫn bằng cách này cách khác giúp Bác. Cụ thân sinh ra tôi khi đó là cán bộ lãnh đạo Binh chủng TT có kể chỉ những dịp chính thức (22-12, 2-9, 7-5, sinh nhật…) mới được vào thăm Bác, thấy Bác sống không phải giản dị mà là cả thiếu thốn nữa. Bộ tư lệnh TT nhiều lần cho anh em kỹ thuật lấy lý do vào kiểm tra đường dây điện thoại để sửa chữa những vật dụng cho Bác, mang thêm cho bác cân thịt, hộp sữa…..Bây giờ nói lại nghe khó tin nhưng giai đoạn cả nước khó khăn đó lại hết sức bình thường….Tôi không nhớ chính xác cũng khoảng những năm đó Binh chủng TT có kỷ niệm ngày thành lập (năm chẵn) kết hợp đón Huân chương gì đó . Đồng chí Tư lệnh phải đón các ông lớn là LĐT, TH….theo nghi lễ nhà nước , Cụ thân sinh ra tôi và một số đ/c Phó Tư lệnh khác đi đón bác Giáp đến dự mặc dù lúc này bác không còn chức vụ gì hết. Mấy hôm trước đó ban lãnh đạo Bộ tư lệnh phải họp bàn cách để các đoàn không đụng độ nhau…sẽ phiền cho Đại tướng cũng như cho chính BTL…..

Theo phép quy nạp trong toán học thì suy ra toàn quân ở đâu cũng còn có nhiều cán bộ chiến sĩ yêu quý Đại tướng chứ không phải ai cũng cơ hội, hèn nhát mà quên mất công ơn người sáng lập và rèn luyện ra quân đội…

Có đọc bài báo nói về Tổng thống Putin muốn học tập Mỹ là chọn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từ giới dân sự vì “Quân nhân khi làm Bộ trưởng Quốc phòng luôn có xu hướng giải quyết vấn đề bằng vũ lực”. Người không phải quân nhân nhìn vấn đề khách quan và bao quát hơn.

Nhưng với bác Giáp thì không cần, đang trên đường đi học một trường quân sự bên Tàu do tình hình mới Bác Hồ gọi về nên có được học đâu. Bác từ thực tiễn mà thành lập nên quân đội và dẫn dắt đội quân ấy chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng (vai trò cá nhân của bác Giáp trong trận này có yếu tố quyết định) Không có chiến tranh thì Bác là thày giáo dạy sử, đúc kết từ lịch sử ra cách đánh không có trong sách vở dạy nhưng tất nhiên với khả năng thiên bẩm của Bác . (Dù rằng đời chỉ thích hoa hồng …kẻ thù buộc ta ôm cây súng….) . Với người hiểu sâu biết rộng có tầm nhìn hơn người (Trong thể thao gọi là đọc và xử lý tình huống) thì Bác thừa biết khi nào mới cần chiến tranh và giải quyết bằng cách nào . Bác Hồ chọn Bác là người đứng đầu quân đội là cực kỳ sáng suốt…

Tài năng , đức độ, chiến công của Bác thì những người đã cùng làm việc , đã gặp Bác viết rất nhiều rồi chỉ có một điều nữa mà tôi không thể không nhắc, chỉ để khâm phục chứ khó có ai mà học được. Bác là người sáng lập ra quân đội (năm 33 tuổi) đứng đầu quân đội năm 37 tuổi cho đến lúc nghỉ hẳn khoảng 80 tuổi nghĩa là khả năng lao động trí óc với cường độ cao từ rất sớm và kéo dài gần 50 năm nhưng là người thọ nhất , quan trọng hơn cả là vẫn tỉnh táo đến lúc 100 tuổi . Mấy ngày hôm nay xem lại các bộ phim tài liệu về Đại tướng mới thấy Đại tướng có một sức khỏe đáng nể . Năm 1972 (Bác 61 tuổi) vẫn đi lại thoăn thoắt thăm bộ đội tên lửa , năm 2004 lên thăm lại Điện biên Phủ (93 tuổi) vẫn còn sức lên thăm các nơi, vẫn nhận ra những người làm việc với mình cách đây 50 năm, vẫn nói chuyện với đồng bào….Xưa đọc Tam Quốc thấy Triệu Tử Long , Hoàng Trung trên 70 tuổi vẫn ra trận….xem ra so với Bác cũng không là gì…Báo chí (nước ngoài) viết về thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp là vượt trội ở thế hệ của mình , nhưng cả về sức khỏe Võ Nguyên Giáp cũng là vô địch.

Những người thày thuốc và cả những người dạy thiền cũng phải nghên cứu từ Bác xem bí quyết ờ đâu ?

Để hình dung ra mức độ căng thẳng khi chiến tranh như thế nào , qua lời kể của cụ Phi Long – Nguyên Cục phó Cục tác chiến – thân sinh ra Bs Dung : khi Bác Giáp còn làm Bộ trưởng Quốc phòng, giao ban cực kỳ nghiêm túc các cán bộ đi giao ban không chuẩn bị kỹ tài liệu báo cáo sẽ bị phê bình ngay lập tức vì Bộ trưởng nắm rất vững mọi vấn đề . Năm 1973 cụ Phi Long khi đó chỉ là trung tá cán bộ trong Cục Tác chiến phụ trách một mũi tiến quân. Sau mấy tuần làm việc căng thẳng cho chiến dịch Cửa Việt, Quảng Trị bị tai biến và liệt nửa người , may mà sang Trung quốc chữa trị kịp thời (châm cứu) nên không bị di chứng. Vậy cấp Cục, Bộ Tổng tham mưu, Bộ trưởng Quốc phòng mức độ căng thẳng đến đâu…

Qua những bài báo của những người gần gũi với Bác cũng chỉ biết sống điều độ chế độ ăn nghiêm ngặt….nhưng đó cũng chỉ là một phần. Khỏe không phải chỉ kéo tay xà đơn hơn 100 cái hay nâng tạ gấp rưỡi trọng lượng cơ thể mình. Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa thì : ” Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”.

Để khỏe và thọ như Bác cả 2 thứ thể chất và tinh thần đều khỏe mạnh (song hành) . Về mặt tinh thần ngoài làm việc căng thẳng do công việc , còn do gian thần (GATO ở cấp độ triều đình) hãm hại , Bác vừa phải rũ bỏ những căng thẳng vừa phải cảnh giác ….Là người dạy sử hẳn Bác biết cách không lặp lại bài học của Nguyễn Trãi . Cụ thân sinh ra tôi kể lại Bác rất cẩn thận và nguyên tắc, nhất là những gì liên quan đến bút tích và cá nhân Bác , mọi thứ đều được thông qua thư ký và Văn phòng Bộ ….. Có lẽ vì thế dù có dựng lên các “vụ Năm Châu – Sáu sứ…” gì đó nhưng bọn gian thần vẫn không làm gì được Bác.

Theo nhà sử học DTQ thì phải có độ lùi lịch sử mới thấy tầm vóc vĩ đại của các nhân vật lịch sử. Nhưng ngay từ bây giờ người ta đã thấy Bác vĩ đại lắm rồi.

Gian thần cứ nghĩ rằng làm giảm uy tín của Bác thì bọn chúng sẽ tỏa hào quang nhưng đâu có dễ thế . Quân tử là ở cốt cách không phải ở bề ngoài , quyền cao chức trọng cũng không bắt nhân dân yêu quý được. (Bác là danh nhân thế giới nên Bác không chấp bọn này nhưng cháu thì khác, việc của cháu là “chém gió chửi chó mắng mèo” , phải cho mọi người thấy những hành động hèn hạ với Bác)

Nghiệm thấy những người sợ và nịnh cấp trên thường hay nạt nộ cấp dưới, Những người trí tuệ học rộng biết nhiều đã theo cách mạng thì triệt để, tôn trọng mọi người dù họ ở địa vị nào và chỉ sợ lẽ phải , phú quý cũng không làm họ quên mục tiêu lý tưởng ban đầu. Những kẻ trình độ có chút ít nhưng “nhiệt tình cách mạng” lại (ra vẻ ) cao, có quyền hành rất hay quên mục tiêu theo cách mạng ban đầu của mình và ham mê quyền lực đến cực đoan…

“Tổ chức” có thể lấy lý do này lý do khác để tổ chức ở nơi này nơi kia, không bắn đại bác , và có thể còn vài thứ không nữa…(cho hợp ý Đảng nhưng không hợp lòng dân). Chỉ có hình ảnh Bác trong tim người dân Việt thì họ không có cách gì che lấp được.

Nên chăng sau này chỉ có chức Bộ trưởng Quốc phòng mà không có chức Tổng tư lệnh nữa vì Đại tướng Tổng tư lệnh gắn liền với bác Giáp rồi.

Đại tướng sau này cũng sẽ có nhiều nhưng họ chỉ dừng ở mức “Một người làm quan cả họ được nhờ” chứ “ Võ Nguyên Giáp làm quan cả nước được nhờ” như Bác chắc chỉ có một mà thôi. Mọi thứ đã được Bác tiên liệu trước , Bác chỉ không tiên liệu được người dân yêu quý Bác nhiều như thế nào ….

Thay lời kết nhắc lại lời một bài báo :

Dân tộc này không cúi đầu trước bất cứ kẻ thù nào nhưng tất cả đều nghiêng mình trước một nhân cách lớn . Đó là Đại tướng của nhân dân : Võ Nguyên Giáp

12/10/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn: Xin đừng chôn tôi gần cộng sản!

Image
Người gián điệp và nhà báo trầm lặng – Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời hư thực.

Phạm Xuân Ẩn, phóng viên chiến tranh tài hoa của tạp chí Time bí mật làm gián điệp cho Hà Nội vừa qua đời ngày 20 tháng 9, 2006. Những lời cáo phó rất tử tế. Người ta nhớ đến Ẩn như một nhà báo ưu tú, ban ngày viết cho Time, ban đêm gởi mật mã và microfilm cho Việt Cộng đang quanh quẩn ở các khu rừng ngoại thành Sài Gòn.

Nhưng lời cáo phó còn thiếu, không đề cập đến việc Ẩn – người mà Hà Nội đã công kênh thành “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân” – chán ghét cái chế độ chính trị ông đã giúp cướp được chính quyền.

Tôi gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu vào năm 1972, khi vừa bước chân đến Việt Nam, năm mới 24 tuổi làm phóng viên chiến trường cho Tạp chí Time. Lúc ấy, Ẩn là một huyền thoại, một tay phong lưu vui tính được mệnh danh là “Tướng Givral” theo tên tiệm bán bánh và cà phê nổi tiếng trên đường Tự Do ông thường lui tới.

Mọi người đều tin tưởng Ẩn bất kể không khí ngờ vực phủ kín Sài Gòn thời đó. Khi cuộc chiến đột ngột chấm dứt cuối tháng tư 1975, gia đình Ẩn và các nhân viên khác của tạp chí Time muốn chạy thoát đều được di tản trong Khi Ẩn ở lại tiếp tục làm việc cho Time tại Sài Gòn. Ẩn điện về New York, “Tất cả phóng viên người Mỹ đã được di tản vì tình trạng khẩn trương, Văn phòng tạp chí Time hiện do Phạm Xuân Ẩn điều động”. Time tán dương quyết định ở lại của Phạm Xuân Ẩn và đăng hình ông, với vẻ căng thẳng, đứng hút thuốc giữa con phố vắng ở Sài Gòn.

Tôi gặp gia đình của Ẩn ở tại tị nạn Pendleton tại California và giúp đưa họ về Arlington, Virginia – định cư ở đó. Cuối cùng, sau một năm im lặng, vợ của Ẩn nhận được điện tín bảo bà phải trở lại Việt Nam. Dù lòng đầy lo âu và nghi ngại vợ Phạm Xuân Ẩn đã quay về theo lệnh. Đưa gia đình về lại Việt Nam xác định lòng trung thành với chính quyền cộng sản nhưng Ẩn vẫn phải đi học tập cải tạo 10 tháng ở Hà Nội (Theo Lâm Lễ Trinh, tháng 8/1978 Ẩn phải đi học tập mười tháng tại Viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, một loại trại tẩy não về chủ nghĩa Mác-Mao dành cho cán bộ trung và cao cấp.– TM)

Năm 1979, tôi trở lại Việt Nam. Đây là chuyến đầu trong suốt 24 lần tôi đến đây trong 5 năm năm liền. Việc đi lại giữa Sài Gòn của một ký giả ngoại quốc không phải là chuyện dễ trong khoảng thời gian đó, nhưng cuối cùng tôi đã thực hiện được vào năm 1981. Thành phố, Sài Gòn mà tôi biết, lúc ấy rất ảm đạm, lạnh lùng. Khách sạn đầy những “người Mỹ không đô la” (dân Việt Nam gọi người Đông Đức, người Bulgary, người Nga như thế). Công an theo sát bước của tôi đến mọi nơi mọi chỗ. Hàng ngàn người (miền Nam) Việt Nam không được việc làm vì có liên hệ với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đang vượt biển bỏ lại quê hương. Những người ở lại phải bán dần gia sản để sinh tồn.

Mục đích của tôi là đi tìm Ẩn, nhưng đây không phải chuyện dễ làm. Tất cả bản đồ Sài Gòn cũ đã bị tịch thu, đốt bỏ. Những con đường lớn đã đổi tên.

Nhà vẫn có số đấy, nhưng chúng không theo một thứ tự nào khiến không thể tìm nhà được dù có địa chỉ trong tay. Cuối cùng, trong tuyệt vọng, tôi hối lộ quan chức Hà Nội bằng thuốc bổ và tã cho trẻ con mua ở Bangkok và tôi được số điện thoại của Ẩn. Tôi gọi Ẩn. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở chợ chim, Ẩn nói, “Tôi sẽ dẫn theo con chó của tôi”.

Ẩn cũng dặn tôi không được nói hay làm gì khi thấy nhau vì công an đang theo dõi. Dường như, đến ngay cả anh hùng, người chỉ huy cả lực lượng tình báo ngoại giao, cũng không thoát khỏi lưới theo dõi. Chợ chim thực ra là lề đường (Huỳnh Thúc Kháng – TM) hai bên chồng chất hàng trăm lồng chim, người mua để thả đi lấy phúc hay nuôi làm chim cảnh. Ẩn đến, dắt theo con béc-giê, chỉ gật đầu khi đi qua mặt nhau. Ẩn và tôi lên hai cái xích lô khác nhau của hai người lính cũ miền nam nghèo khổ. Tôi theo anh ấy về nhà.

Khi đã ở trong nhà, Ẩn bày tỏ nỗi buồn nản, thất vọng ê chề trước hoàn cảnh đất nước của anh. Ẩn thở dài, “Tại sao tham gia cả cuộc chiến chỉ để thay người Mỹ bằng người Nga à?”

Ẩn cũng cho tôi biết, đã hai lần anh đưa gia đình vượt biển, đi trốn và thất bại. Lần đầu, tàu hư máy. Lần thứ hai, người lái tàu không đến, dù tàu tốt, đủ sức vượt biển. Trốn đi bây giờ lại càng khó hơn nhiều, anh nói, vì con trai Ẩn sắp được gởi đi học ở Moscow. Ẩn yêu cầu tôi sang Singapore tìm gặp một người Hoa bí ẩn, nếu được trả đúng giá, sẽ tổ chức cuộc vượt biển. Ẩn nói anh tuyệt vọng rồi.

Tôi viết một thư dài cho Time và gởi phó bản cho tất cả phóng viên của Time đã một thời phục vụ tại Việt Nam. Dự án khá nguy hiểm vì tiếng tăm của Ẩn, tôi viết. Một tướng nổi tiếng và gia đình đi trốn, làm xấu mặt đảng CSVN, nếu thất bại chắc chắn họ sẽ xử tử. Tôi cảnh cáo Time đừng làm những gì có thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình.

Time quyết định không tham dự vào dự án đưa người đi trốn, đầy nguy hiểm. Người tị nạn, vượt biển đã đang là mồi ngon cho hải tặc ở vịnh Thái Lan. Tàu đánh cá Thái Lan đâm vào, đánh chìm thuyền người tị nạn, chỉ vớt những thiếu nữ làm đồ tiêu khiển, làm hàng đổi chác giữa các đoàn thuỷ thủ đến khi nạn nhân chết hay phải tự sát. Đây là một quyết định rất khó khăn chúng tôi phải chấp nhận, nhưng tôi hay bất cứ ai khác ở Time đều không có kinh nghiệm đối đầu với quân hải tặc và khả năng rủi ro cho thuyền vượt biển rất lớn trong tình cảnh lúc bấy giờ.

Ẩn ở lại Việt Nam, chờ một ngày sáng sủa hơn. Cuối cùng, ngày ấy đến năm 1986 với chương trình Đổi mới của Hà Nội. Tôi quay lại Việt Nam thăm Ẩn và vợ anh, Nguyễn Thị Thu Nhạn, giữa thập niên 1990 và thấy cả hai có vẻ lạc quan hơn. Đúng như Ẩn lo ngại, con trai anh, Phạm Xuân Hoàng bị gởi đi Moscow, nhưng sau đó lại được phép đi sang North Carolina và cuối cùng tốt nghiệp luật ở Đại học Duke University. Dù được tập đoàn luật sư nước ngoài thuê làm việc với lương 4.000 USD/tháng, Phạm Xuân Hoàng làm việc cho Sở Quan hệ Ngoại giao ở thành phố Hồ Chí Minh với số lương 200 USD/tháng. Không như bố, Hoàng không phải là đảng viên đảng cộng sản.

Tuần qua, Ẩn được an táng tại nghĩa trang Sài Gòn. Lời yêu cầu sau cùng của Ẩn: đừng chôn anh gần người cộng sản.

David DeVoss (Weekly Standard 9/10/2006) Volume 012, Issue 04 — Trà Mi lược dịch
http://www.datviet.com/baodatviet/index.php?news=107861

29/08/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | | %(count) bình luận

Ở CUỐI HAI ĐƯỜNG

(Đốt nén nhang cho ngày 30 tháng 4)
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 30 năm từ ngày 30/4/1975)
Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trắm cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: – Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn Văn Thà, rồi “báo cáo” một số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
-Trong này có anh nào thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
-Thưa cán bộ, có tôi ạ.
-Anh ở trung đoàn mấy?
-Trung Đoàn 44.
-Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
-Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
-Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
-Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
-Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
-Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
-Sau đó cán bộ được trao trả? tôi hỏi.
-Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:-Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
-Tôi để một giỏ cá đàng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc dấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no – dù chỉ là no sắn.
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
-Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:-Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
-Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? – một anh tù hỏi.
-Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
***Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão.
Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Na Uy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Na Uy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Na Uy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Na Uy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt Nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nở, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Na Uy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Na Uy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Na Uy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Na Uy với cô.Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “ông Nguyễn Văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ Quốc Phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Na Uy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn Văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ – 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
-Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? tôi hỏi.
-Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:-Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?-Ông Thà, Nguyễn Văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?

-Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. – Tiếng cô gái sụt sùi.
-Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.

-Bây giờ cháu đang ở đâu? – Tôi hỏi.
-Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
-Ba cháu bây giờ làm gì?
-Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Na Uy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy một không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Na Uy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Na Uy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Na Uy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Na Uy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
***
“Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết những dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
****
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
PHẠM TÍN AN NINH

Vương Quốc Na Uy

16/07/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi, Truyện ngắn hay | | 4 phản hồi

Nếu Bên Bạn Là Một Cô Gái Mạnh Mẽ

(tudiepthao.com)

Ảnh

 Khi một người phụ nữ quyết định quên đi một người đàn ông, đó không phải vì họ hết yêu mà chỉ có thể vì nỗi đau đối phương mang đến cho họ quá đậm sâu.

Phụ nữ mạnh mẽ khi mất đi người đàn ông mình yêu họ sẽ chọn cách đối mặt với hồi ức chứ không phải là bước qua hồi ức. Có những người phụ nữ sau khi người đàn ông của họ bước đi, những bản tình ca cũ, những con đường cũ, những dư vị cũ họ đều không dám nghe lại, không dám ngoảnh lại, không dám cảm nhận lại…

Tiếp tục đọc

08/05/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi, Nhàm đàm | 3 phản hồi

Phụ nữ có nhất thiết phải lấy chồng???

_Nguyễn Hoàng Ánh, từ Hà Nội

Từ nhỏ, mình đã được dạy dỗ là con gái phải thế này thế kia… thì mới lấy được chồng! Vì mình chả bao giờ đạt những tiêu chuẩn ấy nên đã lớn lên trong nỗi lo thường trực là sẽ “ế”, từ lúc ấy là kinh khủng nhất đối với con gái! Nhưng sau này mình mới phát hiện ra là đấy cũng là lo ngại thường trực của các cô gái khác! Tự nhiên, mình nhìn con trai một cách “kính nể” vì họ oai thế nào mới được lựa chọn mình!

Khi đã làm quen với một cơ số con trai, mình mới phát hiện ra là họ cũng chả có gì đáng phải “thần tượng” đến thế, nếu không muốn nói là chính họ cũng chả biết họ muốn gì vì họ chưa bao giờ được dạy về cách làm chồng, trong khi con gái được học từ nhỏ! Hơn nữa, việc lấy chồng chả có gì đáng mơ ước đến thế và thật bất công khi việc con gái lấy chồng được coi như may mắn, ân huệ còn việc con trai lấy vợ lại như mất mát, hy sinh vậy!

 Đến khi có con gái, mình lại càng thấy vô lý khi đứa con mình nâng niu như báu vật, vất vả quên mình nuôi nó lớn lên, đến lúc bắt đầu “thu hồi vốn đầu tư” thì lại vội vàng đuổi nó đi cho người khác! Nhìn những ông bố bà mẹ rất nâng niu con ở nhà, nhưng đến khi nó 26-27 tuổi là sẵn sàng giúi nó vào tay bất kỳ thằng đàn ông vô học, nát rượu nào, miễn là nó có chồng, thấy rất vô lý! Nhớ đến câu của George Sand phát biểu từ thế kỷ 19: “Chúng ta nuôi dạy con gái như các vị nữ thánh để rồi bán nó đi như nô lệ”, đến giờ vẫn đúng mà chua xót! Khổ nỗi nữ giới VN, dù được học hành, thông minh sáng láng đến đâu, vẫn “bị lập trình” là phải có 1 tấm chồng, nên tình trạng vô lý đó mãi vẫn không được cải thiện! Nhìn tỷ lệ kết hôn thấp của phụ nữ Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc, xin có vài ý kiến sau:

 1. Phải bỏ ngay ý tưởng phụ nữ cần kết hôn sớm, nam giới thì bao giờ cũng được đi! Phụ nữ sống 1 mình rất tốt vì tự nấu ăn, chăm sóc nhà cửa được, trong khi nam giới thì không! Phụ nữ rất dễ tìm người giúp mình sinh con, nam giới không thể! Thời buổi này phụ nữ tự chủ về kinh tế rất nhiều. Mình có cô SV cũ học TS ở nước ngoài, bà mẹ bảo: nếu con k thích lấy chồng thì cứ sinh một đứa con, mẹ nuôi cho rồi đi đâu thì đi! Bà ngoại bao giờ cũng là đồ xịn mà! Tất nhiên tìm được người tâm đầu ý hợp kết hôn là tốt nhất nhưng nếu không thì cũng k nên ép mình! Nâng cao lòng tự trọng sẽ làm phụ nữ có giá và tìm được bạn đời biết tôn trọng mình hơn!

 2. Hãy biết trân trọng bản thân, self enjoy để tránh tình trạng chăm chăm kiếm một ông chồng! Đời vui mà, fashion, music, bạn bè… có biết bao nhiêu thú vui! Hãy biết yêu mình! Đừng vì sức ép của gia đình, xã hội mà lao vào một cuộc hôn nhân bất hạnh! Thời buổi này phụ nữ độc lập tài chính có thể có bạn trai, có con mà vẫn được coi trọng. Hãy kết hôn nếu bạn tin là sẽ hạnh phúc, nếu k đừng ép bản thân! Ngược lại là bạn đã làm khổ ít nhất 3 người: bạn, chồng bạn, con bạn, chưa kể họ hàng bố mẹ hai bên!

 3. Xã hội phải bỏ chuyện kỳ thị người độc thân, nhất là trong gia đình! Rất nhiều người phụ nữ chấp nhận hôn nhân không hạnh phúc chỉ để tránh câu hỏi: “Sao chưa lập gia đình?” Hãy nghĩ người độc thân không phải là hàng ế mà là hàng xa xỉ, không phải ai cũng đủ khả năng có được!

 4. Tuy nhiên, nếu bạn muốn lên thiên đường thì dù sao cũng vẫn nên lập gia đình! Vì như Socrates đã nói: Nếu gặp được 1 người bạn đời tốt, bạn sẽ có Thiên đường ngay khi còn sống! Nếu gặp phải người bạn đời xấu, chắc chắn khi chết bạn sẽ được lên Thiên đàng!

 

PS: Rất cám ơn mọi người đã hưởng ứng! Có điều lưu ý là sống độc thân khó hơn nhiều so với lấy chồng vì không phải ai cũng có khả năng sống độc lập, nhất là khi lại đi ngược lại trào lưu xã hội! Chính vì vậy, sống độc thân là hàng xa xỉ, không phải ai cũng đủ khả năng làm được. Bạn có đủ khả năng làm người tự do không?

 

08/01/2013 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | 15 phản hồi

SẦU OÁN VÌ TÂM THỨC !

Tháng 8 vừa qua nhân về quê làm đám giỗ, tôi sang Kiến Xương thăm quê ông Nguyễn Hữu Đang. Quê ông ở thôn Trà Vi, xã Vũ Công, cách nhà tôi gần bốn chục cây số.
Chiều Thu se lạnh. Những cánh diều chao nghiêng giữa trời xanh ngắt. Con đường nhựa phẳng phiu chạy giữa đồng lúa đang vào độ chín. Xa xa thấp thoáng mấy tháp chuông nhà thờ.

               Tôi bỗng nhớ những câu thơ cháy lòng của ông Nguyễn Hữu Đang: “Anh đến nhân gian lạc bến bờ. Tìm sông lưu lạc núi bơ vơ ! Biết chăng sầu oán vì tâm thức! Máu đẫm tay người dệt phím tơ! Bước chân lịch sử đi không vội ! Tơ nhện thiên đường dệt ước mơ!”…

 nguyenhuudang
                                 Ông Nguyễn Hữu Đang

Quê tôi không phải đất địa linh nhân kiệt, nhưng đã sinh ra những con người  như  cụ Thượng thư Lương Quy Chính, Tướng Trần Độ, nhà báo Nguyễn Hữu Đang… những bậc tài đức đáng kính trọng. Nhưng tôi cũng băn khoăn tự hỏi, phài chăng quê mình đất bạc, nên các bậc tài danh ấy số phận quá truân chuyên?  Cuộc đời của Thượng thư Lương Quy Chính, của Tướng Trần Độ, và đặc biệt  nhà báo Nguyễn Hữu Đang nói lên điều đó.

Nguyễn Hữu Đang sinh năm 1913 trong một gia đình trí thức. Vì tham gia Hội sinh viên, thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, nên  năm 17 tuổi đã bị thực dân Pháp bắt giam, đưa ra tòa xét xử. Được thả vì còn vị thành niên, ông lên Hà Nội học trường Cao đằng sư phạm, vừa tốt nghiệp dấn thân  ngay vào con đường  cách mạng. Ông là thành viên chủ chốt trong phong trảo Mặt trận dân chủ Đông Dương, làm biên tập viên báo Thời Báo, Ngày Mới, Tin Tức, là bạn bè chí cốt với các ông Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Phan Thanh, Nguyễn Văn Tố. Khi đảng  công sản rút vào hoạt động bí mật, ông được phân công ra công khai, vận động trí thưc, lo tài chính cho đảng. Các nhà tư sản ngày ấy sẵn sàng đưa tiền,vàng  cho Nguyễn Hữu Đang, không  cần  bất kỳ một thứ chứng từ nào, người ta tin ông là một người  trung thực,và biết  tiền bạc của mình  được sử dụng đúng mục đich.

Tháng 8-1945, Nguyễn Hữu Đang được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào bầu  làm thành viên Uỷ ban dân tộc khởi nghĩa, đó là Chính phủ cách mạng lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Có một câu chuyện, một thời gian dài người ta cố tình lờ đi là kỳ tích  dựng Lễ đài độc lập của ông Nguyễn Hữu Đang.

Chuyện kể rằng, chiều 28-8-1945, ông Nguyễn Văn Tố  dẫn Nguyễn Hữu Đang vào gặp Hồ Chủ tịch, nhận nhiệm vụ Trường ban Tổ chức ngày Lễ độc lập 2-9 và dựng Lễ đài. Thời gian chỉ còn đúng 48 tiếng đồng hồ, trong tay không có bất kỳ một thứ vật liệu nào. Ông Nguyễn Hữu Đang nói thật với Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch nói với ông: “Có khó thì mới cần đến chú!”

Chỉ một câu nói ấy, đã thôi thúc Nguyễn Hữu Đang lao vào công việc, và nhờ uy tín của ông, dân Hà Nội đã đóng góp tài năng, trí tuệ, sức người sức của, dưng lên  Lễ đài Độc Lập sừng sững giữa vưởn hoa Ba Đình, Hà Nội, nơi Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2-9-1945.

Sau cách mang tháng 8, ông Nguyễn Hữu Đang lảm Thứ trưởng Bộ Thanh niên và nhiều chức vụ khác. Năm 1956 ông biên tập báo Nhân Văn, bị khép vào nhóm Nhân văn giai phẩm, ngày 21-1-1960,  ông bị đưa ra tòa với tội danh làm gián điệp, bị phạt 15 năm tù, biệt giam ở Hà Giang.

Suốt 15 năm tù, ông Nguyễn Hữu Đang không được tiếp xúc với người thân, không hề biết có cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông còn sống mà như đã chết, bị tách ra khỏi thế giới loài người!

Năm 1974, Nguyễn Hữu Đang mãn hạn tù, tuổi 62, tóc râu bạc phơ, thơ thẩn như lạc vào cõi lạ.

Gót nhọc men về thung cũ

Quỳ dưới chân quê

Trăm sự cúi đầu

Xin quê rộng lượng

Chút thổ phần bò xéo dưới chân

Những câu của nhà thơ Phùng Cung đã khắc họa ngày trở về của Nguyễn Hữu Đang như thế.

Ông trở về nơi ông sinh ra, làng Trà Vi, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, Thái Bình. Dù có anh em họ mạc, nhưng ông không muốn làm phiền họ. Lúc đầu ông ở trại nuôi lợn của hợp tác xã, sau về tá túc ở chái  bếp khu tập thể  giáo viên thôn Trà Vi.

Cái chái bếp nơi ông ở, có lần nhà văn Phùng Quán tới thăm, kể rằng, chỉ khoảng 5 mét vuông, nhằng nhịt giây nhợ, mái chạm đầu nên lúc nào cũng phải ở tư thế lom khom. Cách cái bếp tập thể một bức vách trát bùn ngào với rơm, khói bếp lùa sang, làm mắt ông cay xè, ông tự an ủi bởi thỉnh thoảng  được ngửi mùi mỡ rán cũng đỡ thèm! Cái gường không có chân, kê bằng gạch vỡ, bàn ăn là đít cái thùng tôn gánh nước người ta vứt bỏ, ghế ngồi là cái lu sành vỡ lật ngược, ông gọi là đôn sứ, cái bàn viết mối mọt ăn hết hai chân, phải treo một đầu lên vách, ông dẫn lời Trang Tử: “Một cái bàn có bốn chân là một cái bàn. Một cái bàn có hai chân là một con người!”

Hơn hai mươi năm ông sống nhờ cóc, nhái, rắn chuột. Ông lượm những vỏ bao thuốc lả đổi cho trẻ chăn trâu lấy cóc nhái làm món ăn. Ông lấy nắp hộp dầu cù là xâu lại, làm cái lục lạc đeo ở hai mắt cá  chân, mỗi bước đi nó phát ra tiếng lách cách, để cảm thấy mình còn hiện diện trên trái đất này, và bớt cô đơn! Ông sợ lúc chết phiền người khác, nên  dọn sẵn một hố đất đười gốc bụi tre, cách  chái bếp không xa, để có thể bò ra đó mà chết.

Khi ông còn ở tù đã đành, lúc ông đã ra tù, và nhiều người đã biết ông bị oan trái mà vẫn bỏ rơi ông. Những người bạn chí cốt ngày xưa, ông lo cho từng bộ quần áo, từng tập vở cây bút, không một lần ghé thăm. Tồ Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài dành cho ông những lời bịa đặt. Những bài bào vu khống đăng nhan nhản. Ông nhẫn nhục sống và viết, không oán ai nửa lời, cái nhân cách mới tuyệt vời làm sao!

                                Anh đến nhân gian lạc bến bờ

                                Tìm sông lưu lạc núi bơ vơ

                                Bước chân lịch sử đi không vội

                                Tơ  nhện thiên đường dệt ước mơ!

Tâm hồn của ông Nguyễn Hữu Đang trong sáng và thấm đẫm tình yêu con người, yêu tự do. Ông khảng khái viết: “Do pháp trị thiếu sót, mà cải cách ruộng đất hỏng to đến thế”“Hộ khẩu rình bên cừa sổ, khiến người ta mất ăn mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám xét nhà người kinh doanh, ép buộc người có nhà rộng phài nhường lại một phần cho cán bộ hay cơ quan ở, công an hỏi giấy hôn thú đôi vợ chồng ngồi ngắm trăng, thủ trưởng cơ quan đòi kiểm duyệt từng bài báo…”.

Những lời thẳng thắn của nhà báo Nguyễn Hữu Đang vẫn còn giá trị hiện thực, đóng góp vào việc sửa đổi hiến pháp.

Căn nhà bếp của giáo viên có cái  chái nơi ông Nguyễn Hữu Đang ở, bụi tre có cái hố nông, ông chọn làm nơi vĩnh biệt cõi đời,  giờ không còn dấu vết. Chính quyền địa phương đã xây dựng sân chơi và nhà văn hóa khang trang. Hương linh ông Nguyễn Hữu Đang đã được thờ cúng trong nhà từ đường họ Nguyễn ở thôn Trà Vi. Anh Nguyễn Văn Thịnh, một người cháu ông Nguyễn Hữu Đang nói với tôi: “Lịch sử đã ghi nhận công lao nhân cách của bác tôi, và chúng tôi tự hào vế ông!”

                                                                   31-8, Nhâm Thìn
                                                                           M D
+ Bài liên quan:
> http://news.zing.vn/xa-hoi/ai-la-nguoi-dung-le-dai-doc-lap-29/a271117.html

05/12/2012 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | | 2 phản hồi

Kẻ thắng trận

Tác giả : Gã Đầu Bạc

Sau hơn 2 năm chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú trong đại ngàn Trường Sơn tháng 1/1979 chúng tôi hành quân cấp Trung đoàn lên Biên Giới phía Bắc chống Quân Bành trướng Trung Quốc!

Nơi tập kết chờ tàu là thị trấn Cổn thuộc tỉnh Quảng Bình. 10 ngày sau khi ở Cổn cả Trung đoàn được lệnh ra ga lên tàu , chúng tôi mừng lắm. Vì đây là lúc chúng tôi trở lại Miền Bắc và chắc chắn sẽ được qua Hà nội! Khi tàu chuẩn bị chuyển bánh. bất ngờ một chiếc xe Jeep của Kiểm soát Quân Sự Sư đoàn chạy tới. Một Sỹ quan bước ra dõng rạc đọc họ tên tôi yêu cầu xuống tàu đồng thời khóa tay tôi và chở về nhà tạm giam của Sư đoàn!

     Hoang mang đến tột độ. Tôi không bết mình đã phạm phải sai lầm gì.Nhớ lại lúc đó tôi luôn tự nhủ “Cây ngay không sợ chết đứng”

Sau 2 ngày giam giữ không xét hỏi,đến ngày thứ 3 tôi được dẫn lên Ban Quân Pháp Sư đoàn. Tại đây tôi đã bị thẩm vấn bở Đại úy Thanh trưởng ban Quân Pháp sư đoàn (Ông này lính chúng tôi thường gọi là Thanh Bọ. Bởi quê của ông ở Quảng Bình). Tôi cũng được bết Đại úy Thanh từng phá một vụ án tham ô xăng dầu khá nổi tiếng ở Sư đoàn. Ông đã đưa vài quân nhân trong vụ đó ra Tòa án binh. Vì quá rõ về ông ta nên tôi càng thắc mắc tợn. Tại sao một Quân nhân không chức quyền như tôi lại được “Hân hạnh” gặp ông? Đành rằng trong sinh hoạt của lính tôi cũng chắng là người ngoan ngoãn gì. Tôi cũng vài ba lần bị kỷ luật vì đánh nhau với mấy anh lãnh đạo có A trưởng B trưởng chỉ vì chưa bao giờ tâm phục khẩu phục mấy anh cán bộ loại vớ vẩn đó (Sống lâu lên lão làng, trình độ học vấn hết lớp 4) những chuyện như thế ở cấp đại đội đã có đủ thẩm quyền và biện pháp xử lý!

 

Tiếp tục đọc

07/09/2012 Posted by | Cuộc sống quanh tôi, Truyện ngắn hay | 7 phản hồi

Tản mạn trước Thu về

– Từ Công Phụng –

“Khi rời đất nước ra đi, chúng tôi không còn tuổi trẻ để mang theo mà chỉ đem được rất nhiều kỷ niệm, ngổn ngang trong trí nhớ với những niềm luyến tiếc khôn nguôi. Ở quê hương chúng ta, mặc dù miền Nam chỉ có hai mùa mưa nắng nhưng tháng Tám dường như chúng ta nghe mùa Thu có con nai vàng đạp trên lá vàng khô trong thơ Lưu Trọng Lư. Và tôi tưởng tượng như có mùa Thu trở mình trên gót nhỏ dìu em đến người bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc như trong bản Như Ngọn Buồn Rơi.

Nhưng sao ở đây, quê người, mảnh đất tạm dung thân, tháng Chín, nhân dáng mùa Thu trở về đẹp quá trong chiếc áo xanh vàng đỏ đâu đó mà sao lòng mình không xúc cảm là mấy. Có phải quê người không có một chỗ đứng trong tâm hồn kẻ lưu vong như chúng ta, không có một kỷ niệm nào trong ký ức để nhớ để thương”.

Tiếp tục đọc

22/08/2012 Posted by | Cuộc sống quanh tôi | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?